Na Uy
quốc gia ở Bắc Âu
Na Uy, quốc hiệu là Vương quốc Na Uy, là một quốc gia ở Bắc Âu nằm ở Tây Bắc Âu có lãnh thổ bao gồm phần phía tây và cực bắc của Bán đảo Scandinavia; bao gồm đảo Jan Mayen và quần đảo Svalbard là 2 lãnh thổ nằm rất xa về phía Bắc Cực; bao gồm lãnh thổ phụ thuộc: đảo Bouvet nằm ở khu vực Subantartic. Na Uy cũng tuyên bố chủ quyền lãnh thổ với hòn đảo Peter I và Queen Maud Land tại châu Nam Cực.
Na Uy có tổng diện tích là 385.207 kilômét vuông (148.729 dặm vuông Anh) và dân số là 5,385,300 (2020). Đất nước này có chung biên giới phía đông với Thụy Điển (có chiều dài là 1.619 km hoặc 1.006 mi). Na Uy giáp Phần Lan và Nga ở phía đông bắc. Eo biển Skagerrak ở phía nam nối Na Uy với Đan Mạch. Na Uy có đường bờ biển dài, hướng ra Bắc Đại Tây Dương và biển Barents. Chính đại dương khiến Na Uy có khí hậu vùng đất thấp êm dịu, bớt lạnh hơn nhiều so với các quốc gia ở vùng vĩ độ bắc tương tự. Ngay cả vào những đêm vùng cực, nhiệt độ thông thường vẫn trên mức đóng băng. Đại dương cũng mang lại lượng mưa và lượng tuyết rơi lớn ở nhiều vùng.
Na Uy có một chế độ quân chủ lập hiến. Quốc vương Na Uy hiện tại là Haakon VIII thuộc Vương tộc Glücksburg. Thủ tướng đương nhiệm là Jonas Gahr Støre, giữ chức vụ từ năm 2021. Hiến pháp hiện hành được ban hành vào năm 1814. Vương quốc Na Uy được thành lập vào năm 872 với sự sáp nhập của hàng loạt các tiểu quốc và tồn tại như thế trong suốt hơn 1 100 năm. Từ năm 1537 đến 1814, Na Uy là một phần của Vương quốc Đan Mạch-Na Uy; từ năm 1814 đến 1905 thì nằm trong Vương quốc Liên hiệp Thụy Điển và Na Uy. Na Uy là nước trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, đến tháng 4 năm 1940 thì bị Đức Quốc Xã xâm chiếm và đến tận cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất thì Na Uy mới giành được độc lập.
Na Uy phân chia hệ thống chính trị và quản lý làm 2 cấp độ: Hạt và Khu tự quản. Nhóm người thiểu số Sámi tự trị trong vùng đất của họ theo Đạo luật Finnmark và Quốc hội Sámi. Na Uy duy trì mối quan hệ chặt chẽ với cả Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ. Na Uy là thành viên sáng lập của Liên Hợp Quốc, NATO, Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu, Ủy hội châu Âu, Hiệp ước châu Nam Cực và Hội đồng Bắc Âu; là thành viên của Khu vực kinh tế châu Âu, Tổ chức Thương mại Thế giới, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế cũng như Khối Schengen. Tiếng Na Uy có rất nhiều điểm tương đồng với tiếng Đan Mạch và Thụy Điển.
Na Uy theo mô hình phúc lợi Bắc Âu với hệ thống y tế toàn dân và an sinh xã hội toàn diện, bắt nguồn từ lý tưởng của chủ nghĩa quân bình. Na Uy nắm giữ vị trí quan trọng trong các lĩnh vực công nghiệp trọng điểm, với lượng dự trữ tài nguyên dồi dào gồm có dầu mỏ, khí tự nhiên, khoáng sản, gỗ, thủy sản và nước ngọt. Ngành dầu khí chiếm đến khoảng 1/4 tổng sản phẩm nội địa. Về bình quân đầu người, Na Uy là nước sản xuất dầu mỏ và khí tự nhiên lớn nhất thế giới bên ngoài Trung Đông.
Thu nhập bình quân đầu người của Na Uy cao thứ tư thế giới theo Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, còn theo ước tính của CIA (năm 2015) thì xếp thứ 11. Na Uy có quỹ đầu tư quốc gia lớn nhất thế giới, trị giá 1 nghìn tỷ USD; chỉ số phát triển con người cũng xếp số 1 kể từ năm 2009; xếp thứ nhất trong Báo cáo Hạnh phúc Thế giới năm 2017 và hiện tại đang đứng đầu về Chỉ số Cuộc sống tốt đẹp hơn của OECD, chỉ số Liêm chính công, Chỉ số dân chủ. Na Uy cũng là một trong những nước có tỷ lệ tội phạm thấp nhất trên thế giới.
Nguồn gốc tên gọi
Tên tiếng Việt của nước này có gốc từ tên tiếng Trung. Tiếng Trung phiên âm từ "Nor-way" thành 挪威 ("Nuó wēi"). 挪威 có âm Hán Việt là "Na Uy".
Na Uy có hai tên gọi chính thức là Norge (tiếng Bokmål) và Noreg (tiếng Nynorsk). Tên trong tiếng Anh là Norway bắt nguồn từ Norþweg trong tiếng Anh cổ với ý nghĩa "con đường đến phương bắc". Người Anglo-Saxon dùng từ này vào năm 880 để gọi tên đường bờ biển giáp Đại Tây Dương của Na Uy, họ gọi vương quốc Na Uy khi đó là Norðmanna land. Tên gọi của ngôn ngữ Na Uy cũng được cho rằng bắt nguồn tương tự như vậy.
Có nhiều tranh cãi về ý nghĩa tên gọi bản địa của Na Uy. Theo quan điểm chủ đạo truyền thống, thành tố đầu tiên là norðr - cùng nguồn gốc với từ north, vì thế cái tên đầy đủ sẽ là Norðr vegr: "con đường hướng về phương bắc", chính là nhắc đến tuyến đường biển dọc theo vùng duyên hải Na Uy. Tương tự với từ Suðrvegar: "con đường về phía nam" nhắc đến nước Đức, Austrvegr: "con đường về phía đông" nhắc đến biển Baltic. Trong phần dịch của Orosius dùng từ Norðweg, ký tự ð sau dần bị biến mất trong tiếng Anh.
Một giả thuyết khác lại cho rằng thành tố đầu tiên là từ Nór, nghĩa là "hẹp" (Anh cổ: Nearu), ám chỉ tuyến hàng hải đi qua các quần đảo bên trong vùng đất ("con đường hẹp") phía bắc châu Âu. Sự biến đổi nghĩa của từ thành "phía bắc" trong tiếng Anh và tiếng Latin được coi là 1 sự nhầm lẫn nguồn gốc từ (folk etymology). Quan điểm này bắt nguồn từ nhà văn tự học Niels Halvorsen Trønnes vào năm 1847; cho đến năm 2016 lại được tán thành bởi nhà hoạt động Klaus Johan Myrvoll và giáo sư văn tự học Michael Schulte. Chữ Nore ngày nay vẫn còn được xuất hiện và sử dụng trong tên vài địa điểm, ví dụ làng Nore hay hồ Norefjorden. Tuy nhiên lý thuyết này vẫn còn nhiều điểm chưa được làm sáng tỏ. Từ norðr và tính từ norrǿnn vẫn là những từ sớm nhất mà tiếng Latin và Anglo-Saxon ghi nhận được.
Vào cuối thế kỷ thứ 9, Ohthere of Hålogaland tới thăm Vua Alfred Đại Đế đã nhắc đến Norðwegr và Norðmanna land. Ohthere nói rằng người Norðmanna sống dọc theo bờ biển Đại Tây Dương, người Đan Mạch sống xung quanh eo Skagerrak hay Kattegat, trong khi người Sámi (người "Vây cá") du cư trong vùng nội địa rộng lớn. Ohthere nói ông là "Người sống xa xôi nhất ở phương Bắc" (the most northern of all Norwegians), có thể là tận đảo Senja hoặc gần với Tromsø. Ngoài ra, còn có vùng đất hoang vu rộng lớn phía nam của Na Uy được gọi là vùng đất của người Thụy Điển: "Svealand".
Trong các ngôn ngữ khác, Na Uy có cách viết: Norga (Bắc Sami); Vuodna (Lule Sami); Nöörje (Nam Sami).
Lịch sử
Các bằng chứng khảo cổ học cho thấy con người đã có mặt tại Na Uy ngay từ Thiên niên kỷ thứ 10 trước Công Nguyên (12.000 năm trước). Nghiên cứu khảo cổ cho thấy họ hoặc tới từ những vùng phía nam (bắc Đức), hay đông bắc (bắc Phần Lan hay Nga) . Từ đó họ định cư dọc bờ biển.
Ở thế kỷ 9, dường như Na Uy gồm một số vương quốc nhỏ. Theo truyền thống, Harald Fairhair đã tập hợp các tiểu quốc nhỏ thành một vào năm 872 của Công Nguyên sau Trận Hafrsfjord. Ông trở thành vị vua đầu tiên của nước Na Uy thống nhất.
Thời kỳ Viking (thế kỷ thứ VIII tới thế kỷ XI) là một trong những giai đoạn thống nhất và mở rộng. Người Na Uy đã lập các khu định cư tại Iceland, Quần đảo Faroe, Greenland và nhiều phần của Anh Quốc và Ireland và tìm cách định cư tại L'Anse aux Meadows ở Newfoundland, Canada ("Vinland" của sử thi của Erik Thorvaldsson). Người Na Uy đã thành lập các thành phố Limerick, Dublin, và Waterford của Ireland và thành lập các cộng đồng thương mại gần các khu định cư Celtic của Cork và Dublin sau này trở thành hai thành phố quan trọng nhất của Ireland. Sự lan tràn của Thiên chúa giáo ở Na Uy trong giai đoạn này phần lớn nhờ các vị vua truyền giáo Olav Tryggvasson (995–1000) và St. Olav (1015–1028), dù Haakon the Good là vị vua Thiên chúa giáo đầu tiên của Na Uy. Các truyền thống Norse đã dần thay thế trong các thế kỷ thứ IX và thứ X.
Năm 1349, nạn dịch Tử thần Đen đã giết hại khoảng 40% tới 50% dân số Na Uy, khiến nước này suy sụp cả về xã hội và kinh tế. Trong cuộc suy thoái này, có lẽ Triều đại Fairhair đã kết thúc năm 1387. Bề ngoài có vẻ chính trị hoàng gia ở thời điểm ấy đã dẫn tới nhiều hiệp đoàn cá nhân giữa các quốc gia Bắc Âu, cuối cùng dẫn tới việc ngôi vua Na Uy, Đan Mạch, và Thuỵ Điển rơi vào tay Nữ hoàng Margaret I của Đan Mạch khi nước này gia nhập Liên minh Kalmar với Đan Mạch và Thuỵ Điển. Dù Thuỵ Điển cuối cùng đã rút lui khỏi liên minh năm 1523, Na Uy tiếp tục ở lại với Đan Mạch trong 434 năm cho tới năm 1814. Trong chủ nghĩa lãng mạn quốc gia ở thế kỷ XIX, giai đoạn được một số người gọi là "Đêm trường 400 Năm", bởi tất cả hoàng gia, giới học giả và quyền lực hành chính ở các vương quốc được tập trung tại Copenhagen, Đan Mạch. Các yếu tố khác cũng góp phần vào sự suy sụp của Na Uy trong giai đoạn này. Với sự xuất hiện của Đạo Tin Lành năm 1537, Tổng giám mục tại Trondheim bị giải tán, và các nguồn thu của nhà thờ được phân chia cho triều đình ở Copenhagen tại Đan Mạch. Na Uy mất nguồn hành hương ổn định tới thánh tích của St. Olav tại hầm mộ Nidaros, và cùng với đó, là đa phần nguồn liên hệ với đời sống văn hoá và kinh tế với phần còn lại của châu Âu. Ngoài ra, trong thế kỷ XVII Na Uy cũng bị mất một phần diện tích lãnh thổ khi mất các tỉnh Båhuslen, Jemtland, và Herjedalen cho Thuỵ Điển, sau những cuộc chiến tranh giữa Đan Mạch-Na Uy và Thuỵ Điển.
Sau khi Đan Mạch-Na Uy bị Anh Quốc tấn công, họ tham gia vào liên minh với Napoleon, và vào năm 1814 thấy mình đang ở bên thua cuộc trong Các cuộc chiến tranh của Napoléon và trong tình thế nguy ngập với nạn đói năm 1812. Vị vua Oldenburg của Đan Mạch Na Uy buộc phải nhường Na Uy cho Thuỵ Điển, trong khi các tỉnh cũ của Na Uy là Iceland, Greenland và Quần đảo Faroe vẫn tiếp tục thuộc về triều đình Đan Mạch. Na Uy lợi dụng cơ hội này để tuyên bố độc lập, chấp nhận một hiến pháp dựa trên mô hình hiến pháp Mỹ và Pháp, và bầu vị thái tử người Đan Mạch Christian Fredrik lên làm vua ngày 17 tháng 5 năm 1814. Tuy nhiên, quân đội Thuỵ Điển đã buộc Na Uy phải gia nhập một liên minh cá nhân với Thuỵ Điển, lập ra triều đại Bernadotte nắm quyền cai trị Na Uy. Theo thoả thuận này, Na Uy giữ hiến pháp tự do và các định chế độc lập của mình, ngoại trừ quan hệ đối ngoại. Xem thêm Na Uy năm 1814.
Giai đoạn này cũng chứng kiến sự nổi lên của phong trào văn hoá Chủ nghĩa quốc gia lãng mạn Na Uy, khi người Na Uy tìm cách định nghĩa và thể hiện một bản sắc quốc gia riêng biệt. Phong trào này liên quan tới mọi nhánh văn hoá, gồm cả văn học (Henrik Wergeland, Bjørnstjerne Bjørnson, Peter Christen Asbjørnsen, Jørgen Moe, Henrik Ibsen), hội họa (Hans Gude, Adolph Tidemand), âm nhạc (Edvard Grieg), và thậm chí trong cả chính sách ngôn ngữ, những nỗ lực nhằm xác định một ngôn ngữ viết bản xứ cho Na Uy đã dẫn tới các hình thức ngôn ngữ viết chính thức hiện nay cho Tiếng Na Uy: Bokmål và Nynorsk.
Christian Michelsen, một ông trùm ngành tàu bè và là một chính khách, làm Thủ tướng Na Uy từ năm 1905 tới năm 1907. Michelsen giữ vai trò quan trọng trong cuộc ly khai hoà bình của Na Uy với Thụy Điển ngày 7 tháng 7 năm 1905. Sự bất mãn ngày càng tăng của Na Uy về liên minh với Thuỵ Điển hồi cuối thế kỷ XIX cộng với chủ nghĩa quốc gia đã thúc đẩy nhanh sự tan rã của liên minh. Sau một cuộc trưng cầu dân ý xác định sự ưa chuộng của người dân với chế độ quân chủ hơn một nền cộng hoà, chính phủ Na Uy đã đề xuất trao ngôi báu Na Uy cho Hoàng tử Đan Mạch Carl và Nghị viện đã nhất trí bầu ông. Ông lấy tên Haakon VII, theo các vị vua khi Na Uy độc lập thời Trung Cổ. Năm 1898, tất cả mọi nam giới đều được trao quyền bầu cử, sau đó phụ nữ năm 1913.
Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Na Uy là một nước trung lập. Na Uy cũng tìm cách tuyên bố trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng đã bị các lực lượng Đức xâm lược Na Uy ngày 9 tháng 4 năm 1940. Na Uy không hề chuẩn bị trước cho một cuộc tấn công bất ngờ như vậy của Đức, nhưng các cuộc kháng cự quân sự vẫn diễn ra trong hai tháng, lâu hơn bất kỳ một quốc gia nào khác bị người Đức xâm lược, ngoại trừ Liên bang Xô viết. Trong Chiến dịch Na Uy, Kriegsmarine mất nhiều tàu chiến kể cả chiếc tuần dương hạm Blücher. Những trận chiến Vinjesvingen và Hegra đã trở thành những cứ điểm kháng cự cuối cùng của người Na Uy ở phía nam nước này vào tháng 5, trong khi các lực lượng vũ trang ở phía bắc tung ra các cuộc tấn công vào các lực lượng Đức trong Các trận đánh Narvik, cho tới khi họ buộc phải đầu hàng ngày 10 tháng 6 sau khi mất sự hỗ trợ của Đồng Minh đi cùng sự thất trận của nước Pháp. Vua Haakon và chính phủ Na Uy tiếp tục cuộc chiến trong hoàn cảnh tị nạn tại Rotherhithe, Luân Đôn. Vào ngày cuộc xâm lược diễn ra, vị đồng lãnh đạo của Đảng Quốc gia-Xã hội nhỏ Nasjonal Samling — Vidkun Quisling — đã tìm cách lên nắm quyền lực, nhưng đã bị quân chiếm đóng Đức gạt ra rìa. Quyền lực thực sự nằm trong tay chính quyền chiếm đóng Đức, Reichskommissar Josef Terboven. Quisling, với tư cách bộ trưởng tổng thống, sau này đã thành lập một chính phủ liên minh dưới sự quản lý của Đức. Các cơ sở tại Na Uy đã chế tạo nước nặng, một nguyên liệu chủ chốt chế tạo vũ khí hạt nhân, và cuối cùng đã bị người Đức bỏ lại sau nhiều nỗ lực phá huỷ cơ sở Vemork của người Na Uy, người Anh và người Mỹ. Trong những năm chiếm đóng của Phát xít, người Na Uy đã xây dựng một phong trào kháng chiến mạnh chống lại các lực lượng chiếm đóng Đức bằng cả chiến tranh vũ trang và bất tuân dân sự. Tuy nhiên, yếu tố quan trọng hơn với Đồng Minh, là vai trò của hải quân thương mại Na Uy. Ở thời điểm xảy ra cuộc xâm lược, Na Uy có hạm đội tàu biển thương mại đứng hàng thứ tư thế giới (cũng như có tốc độ nhanh nhất và hiệu quả nhất). Công ty tàu biển Na Uy Nortraship đã nằm dưới sự điều khiển của Đồng Minh trong suốt cuộc chiến và tham gia vào mọi chiến dịch từ việc sơ tán Dunkirk tới cuộc đổ bộ vào Normandy.
Sau cuộc chiến, những thành viên đảng Dân chủ Xã hội lên nắm quyền và lãnh đạo quốc gia trong hầu hết thời gian cuộc chiến tranh lạnh. Na Uy gia nhập NATO năm 1949, và trở thành một đồng minh thân cận của Hoa Kỳ. Hai cuộc trưng cầu ý dân nhằm gia nhập Liên minh châu Âu (được gọi là Cộng đồng châu Âu năm 1972) đã thất bại với tỷ số mong manh năm 1972 và 1994. Những nguồn dự trữ dầu mỏ và khí gas lớn đã được khám phá trong thập niên 1960, dẫn tới sự bùng nổ kinh tế sau đó.
Na Uy là một thành viên sáng lập của Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA). Quốc gia này từng hai lần được mời gia nhập Liên minh châu Âu, nhưng cuối cùng đều từ chối sau các cuộc trưng cầu dân ý với kết quả bác bỏ sít sao vào các năm 1972 và 1994.
Năm 1981, chính phủ của Đảng Bảo thủ do Kåre Willoch dẫn đầu lên thay thế Đảng Lao động, thực thi chính sách kích thích nền kinh tế đang đình trệ bằng cách cắt giảm thuế, tự do hóa kinh tế, nới lỏng quản lý thị trường và áp dụng các biện pháp kiềm chế mức lạm phát cao kỷ lục (13,6% vào năm 1981). Nữ thủ tướng đầu tiên của Na Uy, bà Gro Harlem Brundtland thuộc Đảng Lao động, tiếp tục duy trì nhiều chính sách cải cách này, đồng thời ủng hộ các mối quan tâm truyền thống của Đảng Lao động như an sinh xã hội, thuế cao, công nghiệp hóa tài nguyên thiên nhiên và chủ nghĩa nữ quyền. Đến cuối thập niên 1990, Na Uy đã trả hết nợ nước ngoài và bắt đầu tích lũy một quỹ tài sản chủ quyền. Kể từ những năm 1990, một vấn đề gây tranh cãi lớn trong chính trường là chính phủ nên chi tiêu bao nhiêu từ nguồn thu dầu mỏ và nên tiết kiệm bao nhiêu.
Năm 2011, Na Uy phải gánh chịu hai cuộc tấn công khủng bố do Anders Behring Breivik thực hiện, nhắm vào khu văn phòng chính phủ ở Oslo và một trại hè của phong trào thanh niên thuộc Đảng Lao động trên đảo Utøya, khiến 77 người thiệt mạng và 319 người bị thương.
Jens Stoltenberg giữ chức thủ tướng từ năm 2005 đến năm 2013. Cuộc bầu cử QUốc hội năm 2013 đưa một chính phủ bảo thủ hơn lên nắm quyền. Trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 2017, chính phủ trung hữu của Thủ tướng Erna Solberg tiếp tục tái đắc cử. Cuộc bầu cử Quốc hội năm 2021 chứng kiến thắng lợi lớn của phe đối lập cánh tả trong một kỳ bầu cử xoay quanh các vấn đề biến đổi khí hậu, bất bình đẳng và dầu mỏ; lãnh đạo Đảng Lao động Jonas Gahr Støre sau đó tuyên thệ nhậm chức thủ tướng.
Địa lý
Na Uy gồm phần phía tây của Scandinavia ở Bắc Âu. Bờ biển lởm chởm, bị chia cắt bởi nhiều vịnh hẹp (fjord) và khoảng 50.000 hòn đảo, trải dài hơn 2.500 km. Na Uy có 2.542 km đường biên giới trên bộ chung với Thuỵ Điển, Phần Lan, và Nga ở phía đông. Từ phía tây tới phía nam, Na Uy giáp với Biển Na Uy, Biển Bắc, và Skagerak. Biển Barents nằm ở các bờ biển phía bắc Na Uy.Với diện tích 385.207 km² (gồm cả Jan Mayen, Svalbard), Na Uy hơi lớn hơn Đức, nhưng đa phần lãnh thổ là núi non hay vùng đất cao, với sự đa dạng lớn về địa hình tự nhiên do các dòng sông băng thời tiền sử gây nên. Đặc điểm đáng chú ý nhất là các vịnh hẹp: Những rãnh sâu cắt vào đất liền của biển sau sự chấm dứt của Thời kỳ băng hà, vịnh dài nhất là Sognefjorden. Na Uy cũng có nhiều sông băng và thác nước.
Đất đai chủ yếu gồm đá granite cứng và đá gneiss nhưng, đá acđoa, sa thạc và đá vôi cũng thường thấy, và ở những khu vực có độ cao thấp nhất thường có trầm tích biển. Vì Gulf Stream những cơn gió tây, Na Uy có nhiệt độ ấm và lượng mưa lớn hơn ở các vùng có vĩ độ bắc như vậy, đặc biệt dọc theo bờ biển. Lục địa có bốn mùa riêng biệt, với mùa đông lạnh và ít mưa hơn trong đất liền. Vùng cực bắc chủ yếu có khí hậu cận Bắc Cực biển, trong khi Svalbard có khí hậu tundra Bắc Cực.
Khí hậu
Có sự khác biệt theo mùa lớn trong ngày. Tại các vùng phía bắc Vòng Bắc Cực, mặt trời mùa hè có thể không bao giờ xuống dưới đường chân trời, vì thế Na Uy được miêu tả là "Vùng đất của Mặt trời lúc nửa đêm." Trong mùa hè, người dân ở phía nam Vòng Bắc Cực có ánh sáng mặt trời trong vòng gần 20 giờ trong ngày.
Các thành phố chính
Oslo là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của Na Uy hiện nay. Nằm ở phía Đông Nam Na Uy, Oslo trải dài trên nhiều triền núi và quanh các hồ. Đây cũng là một trong những thành phố có giá cả sinh hoạt đắt nhất thế giới.
Thành phố lớn thứ hai của Na Uy là Bergen. Đây là cảng biển lớn nhất vương quốc Na Uy và cũng là trung tâm công nghiệp dầu khí quan trọng hàng đầu quốc gia này.
Trondheim là thành phố lớn thứ ba và là cố đô của Na Uy. Thành phố này từng là kinh đô cả về mặt chính trị, kinh tế lẫn tôn giáo của xứ sở nghìn vịnh này. Hiện nay, Trondheim còn được biết đến là trung tâm giáo dục, khoa học kỹ thuật của Na Uy với rất nhiều trường đại học đóng tại đây. Thành phố Trondheim còn là nơi tổ chức Festival Sinh viên Quốc tế lớn nhất thế giới, cứ hai năm lại được tổ chức một lần với lần gần nhất là tháng 2 năm 2007
Đa dạng sinh học
Na Uy có số lượng môi trường sống đa dạng hơn hầu hết các quốc gia khác ở châu Âu. Ước tính có khoảng 60.000 loài sinh vật (không tính vi khuẩn và virus) sinh sống tại Na Uy và các vùng biển lân cận. Trong đó, hệ sinh thái biển lớn thềm lục địa Na Uy được đánh giá là có năng suất sinh học vượt trội. Tổng số sinh vật tại Na Uy bao gồm 16.000 loài côn trùng (và khoảng 4.000 loài khác chưa được mô tả), 20.000 loài tảo, 1.800 loài địa y, 1.050 loài rêu, 2.800 loài thực vật có mạch, gần 7.000 loài nấm, 450 loài chim (với 250 loài làm tổ tại đây), 90 loài động vật có vú, 45 loài cá nước ngọt, 150 loài cá nước mặn, cùng 1.000 loài động vật không xương sống nước ngọt và 3.500 loài động vật không xương sống biển. Đến nay, giới khoa học đã mô tả được khoảng 40.000 loài trong số này. Sách đỏ năm 2010 ghi nhận 4.599 loài. Lãnh thổ Na Uy bao gồm năm vùng sinh thái trên cạn: Rừng hỗn hợp Sarmatic, Rừng lá kim ven biển Scandinavia, Rừng taiga Scandinavia và Nga, Đài nguyên Bán đảo Kola, Rừng bạch dương và đồng cỏ núi cao Scandinavia.
Tổng số loài bị đe dọa và sắp bị đe dọa lên tới 3.682 loài; bao gồm 418 loài nấm (nhiều loài trong số đó gắn liền với những diện tích rừng già ít ỏi còn sót lại), 36 loài chim và 16 loài động vật có vú. Vào năm 2010, có 2.398 loài được xếp vào nhóm nguy cấp hoặc sắp nguy cấp; trong đó có 1.250 loài sắp nguy cấp (VU), 871 loài nguy cấp (EN) và 276 loài cực kỳ nguy cấp (CR) – tiêu biểu là sói xám, cáo Bắc Cực và ếch ao.
Sinh vật săn mồi lớn nhất ở vùng biển Na Uy là cá nhà táng, và loài cá lớn nhất là cá mập phơi nắng. Trên đất liền, gấu Bắc Cực là loài săn mồi lớn nhất toàn lãnh thổ, còn gấu nâu là loài lớn nhất tính riêng trong vùng lục địa Na Uy. Động vật trên cạn lớn nhất ở khu vực lục địa Na Uy là nai sừng tấm.
Môi trường
Na Uy có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ và cuốn hút trên khắp cả nước. Vùng duyên hải phía tây nam và bờ biển phía bắc của quốc gia này là nơi có những cảnh sắc bờ biển ấn tượng bậc nhất thế giới. Hiệp hội Địa lý Quốc gia (National Geographic) từng bình chọn các vịnh hẹp (fjord) của Na Uy là điểm thu hút khách du lịch hàng đầu thế giới. Nơi đây còn nổi tiếng với các hiện tượng tự nhiên kỳ thú như mặt trời nửa đêm vào mùa hè, cũng như hiện tượng bắc cực quang.
Theo Chỉ số hiệu quả môi trường (EPI) năm 2024 do Đại học Yale, Đại học Columbia và Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố, Na Uy xếp vị trí thứ bảy, ngay dưới Vương quốc Anh và Thụy Điển. Chỉ số này được đánh giá dựa trên các rủi ro môi trường đối với sức khỏe con người, tình trạng mất môi trường sống và biến động trong lượng phát thải CO2. Báo cáo có lưu ý về tình trạng khai thác thủy sản quá mức, nhưng không tính đến hoạt động săn bắt cá voi hay xuất khẩu dầu mỏ của Na Uy. Vào năm 2019, Chỉ số toàn vẹn cảnh quan rừng của Na Uy đạt điểm trung bình là 6,98/10, xếp thứ 60 trên toàn cầu trong tổng số 172 quốc gia.
Chính trị
Na Uy được công nhận là một trong những nền dân chủ phát triển nhất trên thế giới. Năm 1814, 45% đàn ông từ 25 tuổi trở lên ở Na Uy có quyền bầu cử, trong khi tỷ lệ của Vương quốc Anh chỉ là 20% vào năm 1832, Thụy Điển là 5% vào năm 1866 và Bỉ là 1,15% vào năm 1840. Từ năm 2010, Na Uy được xếp hạng là quốc gia dân chủ nhất thế giới theo Chỉ số dân chủ.
Hiến pháp Na Uy được ban hành vào ngày 17 tháng 5 năm 1814, lấy cảm hứng từ Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ và Cách mạng Pháp, quy định Na Uy là một nhà nước quân chủ lập hiến đơn nhất với một thể chế đại nghị. Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao của Na Uy. Quốc vương Na Uy là nguyên thủ quốc gia và thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Nhà nước Na Uy được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực phân lập.Quốc vương trên danh nghĩa nắm giữ quyền hành pháp, nhưng kể từ khi thể chế đại nghị được thành lập, nhiệm vụ của quốc vương chủ yếu mang tính nghi lễ chẳng hạn như chính thức bổ nhiệm, miễn nhiệm thủ tướng và các bộ trưởng khác. Ngoài ra, Quốc vương cũng là tổng tư lệnh Lực lượng Vũ trang Na Uy, giữ chức vụ ngoại giao chính thức ở nước ngoài và là biểu tượng cho sự thống nhất quốc gia. Harald V của Vương tộc Glücksburg đăng quang vào năm 1991 và qua đời vào năm 2026. Haakon VIII là quốc vương hiện tại.
Trên thực tế, Thủ tướng là người thực hiện các quyền hành pháp. Hiến pháp quy định chính phủ và Quốc hội Na Uy cùng thực hiện quyền lập pháp, nhưng trên thực tế thì Quốc hội là cơ quan lập pháp tối cao. Na Uy có cấu trúc cơ bản là một nền dân chủ đại diện. Quốc hội gồm 169 đại biểu, trong đó 150 đại biểu được bầu từ 19 khu vực bầu cử trên cả nước theo hệ thống đại diện tỷ lệ, 19 ghế còn lại được phân bổ cho các đảng trên cơ sở tỷ lệ phiếu bầu toàn quốc của mỗi đảng. Một đảng phải giành được ít nhất 4% tổng số phiếu trở lên trong cuộc bầu cử thì mới có thể giành được ghế trong Quốc hội. Nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là bốn năm.Quốc hội Na Uy là cơ quan lập pháp tối cao của Na Uy. Quốc hội làm luật theo đa số và có thể luận tội thành viên chính phủ trong trường hợp vi phạm hiến pháp. Nếu người bị luận tội bị tuyên bố là có tội, Quốc hội có quyền bãi nhiệm người này. Sau cuộc bầu cử năm 2017, tổng cộng có chín đảng tham gia Quốc hội: Đảng Lao động (49 đại diện), Đảng Bảo thủ (45), Đảng Tiến bộ (27), Đảng Trung tâm (19), Đảng Cánh tả Xã hội (11), Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo (8), Đảng Tự do (8), Đảng Xanh (1) và Đảng Đỏ (1). Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ, là một đại biểu Quốc hội nhận được sự tín nhiệm của quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội. Thủ tướng thông thường là lãnh đạo của đảng lớn nhất hoặc liên minh đa đảng thắng cử trong cuộc bầu cử Quốc hội. Một đảng thường không có đủ ghế trong Quốc hội để tự thành lập chính phủ. Na Uy thường được có các chính phủ thiểu số, được hình thành từ một liên minh đảng phái có chung tư tưởng chính trị.
Thủ tướng chỉ định các thành viên nội các, theo truyền thống thì các thành viên nội các là thành viên của cùng một đảng với thủ tướng hoặc là thành viên của một đảng nằm trong liên minh thành lập chính phủ. Thủ tướng thực hiện quyền hạn theo Hiến pháp. Trước đây, thủ tướng phải có hơn một nửa số thành viên nội các là thành viên của Giáo hội Na Uy, nghĩa là ít nhất mười trong số 19 bộ trưởng của Na Uy phải là thành viên của Giáo hội. Quy định này bị bãi bỏ vào năm 2012.
Thông qua Hội đồng Nhà nước, một viện cơ mật do quốc vương chủ trì, thủ tướng và nội các họp tại Cung điện Hoàng gia và chính thức hỏi ý kiến Quốc vương. Tất cả các dự luật của chính phủ cần sự chấp thuận chính thức của Quốc vương trước và sau khi trình bày với Quốc hội thì mới có thể thành luật. Tuy vậy việc ban hành luật đều đã được chính phủ và quốc hội nhất trí với nhau từ trước, Viện cơ mật chỉ mang tính chất tượng trưng thể hiện quyền lực của nhà vua.
Cơ quan lập pháp và hành pháp
Trước đây, Quốc hội Na Uy gồm 2 viện: Lagting (tương đương Thượng viện) và Odelsting (tương đương Hạ viện). Từ năm 2009, Quốc hội theo chế độ một viện với 169 nghị sĩ, nhiệm kỳ 4 năm.
Chế độ bầu cử của Na Uy dựa trên nguyên tắc bỏ phiếu kín, bầu trực tiếp và theo tỷ lệ. Cả nước có 19 đơn vị bầu cử. Những người chưa có quốc tịch Na Uy thì được quyền tham gia bầu cử ở địa phương, nếu đến ngày bầu cử họ đã sống liên tục ở Na Uy được 3 năm và đáp ứng các điều kiện chung về bầu cử.
Trong lịch sử, cả Đảng Lao động (thiên tả) và Đảng Bảo thủ (thiên hữu) đều đóng vai trò quan trọng đối với nền chính trị Na Uy. Vào đầu thế kỷ 21, Đảng Lao động đã nắm quyền sau cuộc bầu cử quốc gia năm 2005, trong một liên minh các đảng phái cánh tả được gọi là Liên minh Xanh- đỏ với hai đảng khác là Đảng Cánh tả Xã hội và Đảng Trung tâm.
Trong cuộc tổng tuyển cử năm 2009, cả hai đảng cánh hữu lớn nhất là Đảng Bảo thủ và Đảng Tiến bộ đã giành được nhiều ghế trong Quốc hội, nhưng vẫn không đủ để lật đổ liên minh Xanh-đỏ cầm quyền. Jens Stoltenberg, lãnh đạo đảng Lao động, tiếp tục dành đủ số phiếu cần thiết thông qua liên minh đa đảng của mình để tiếp tục làm Thủ tướng cho đến năm 2013.
Trong cuộc bầu cử quốc gia vào tháng 9 năm 2013, cử tri Na Uy đã chấm dứt tám năm cầm quyền của Đảng Lao động. Hai đảng cánh hữu là Đảng Bảo thủ và Đảng Tiến bộ đã giành được chiến thắng dựa trên lời hứa về việc cắt giảm thuế, chi tiêu nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng và giáo dục, dịch vụ tốt hơn và quy định chặt chẽ hơn về nhập cư, hai đảng đã liên minh với nhau để thành lập nên một chính phủ cầm quyền. Erna Solberg trở thành thủ tướng, nữ thủ tướng thứ hai sau Brundtland và thủ tướng bảo thủ đầu tiên kể từ Syse. Solberg nói rằng chiến thắng của bà là "một chiến thắng bầu cử lịch sử của các đảng phái cánh hữu". Nội các mới theo đường lối trung tả của Na Uy do Thủ tướng Jonas Gahr Støre – lãnh đạo Đảng Lao động – dẫn dắt đã nhậm chức vào ngày 14 tháng 10 năm 2021.
Hệ thống tư pháp và thực thi pháp luật
Hệ thống pháp luật Na Uy là một hệ thống dân luật. Quốc hội làm, sửa đổi luật và tòa án áp dụng luật khi xét xử. Hệ thống tư pháp bao gồm Tòa án tối cao gồm 20 thẩm phán thường trực và một Chánh án, các tòa phúc thẩm, tòa án cấp thành phố và cấp quận, cùng với các hội đồng hòa giải. Nhánh tư pháp độc lập với các nhánh hành pháp và lập pháp. Trong khi Thủ tướng là người bổ nhiệm các Thẩm phán Tòa án Tối cao, việc đề cử phải được Quốc hội phê chuẩn và phải chính thức được Quốc vương xác nhận. Thẩm phán của các tòa án cấp thấp hơn thường được Quốc vương chính thức bổ nhiệm theo lời khuyên của Thủ tướng.
Nhiệm vụ của Tòa án tối cao là điều chỉnh hệ thống tư pháp Na Uy, giải thích Hiến pháp và thực thi luật pháp được Quốc hội thông qua. Trong chức năng đánh giá tư pháp của mình, Tòa án tối cao giám sát các nhánh lập pháp và hành pháp để đảm bảo rằng hai nhánh này tuân thủ các quy định của pháp luật ban hành.
Cơ quan cảnh sát Na Uy là cơ quan thực thi luật pháp của Na Uy, là một cơ quan cảnh sát quốc gia thống nhất gồm 27 cơ quan cảnh sát cấp quận và một số cơ quan chuyên môn, chẳng hạn như Cơ quan điều tra và truy tố tội phạm kinh tế và môi trường, được gọi là Økokrim; và Cục điều tra tội phạm quốc gia, được gọi là Kripos, đứng đầu mỗi cơ quan là một cảnh sát trưởng. Sở cảnh sát được lãnh đạo bởi Tổng cục cảnh sát quốc gia, báo cáo cho Bộ Tư pháp và Cảnh sát. Tổng cục cảnh sát được lãnh đạo bởi một ủy viên cảnh sát quốc gia. Ngoại lệ duy nhất là Cơ quan An ninh Cảnh sát Na Uy.
Na Uy bãi bỏ hình phạt tử hình đối với hầu hết các tội danh thông thường vào năm 1902. Quốc hội Na Uy bãi bỏ hình phạt tử hình đối với tội phản quốc trong chiến tranh và tội ác chiến tranh vào năm 1979. Trong Chỉ số Tự do báo chí toàn cầu năm 2007, Na Uy được xếp ở vị trí đầu tiên (cùng với Iceland) trong tổng số 169 quốc gia.
Nhìn chung, khuôn khổ pháp lý và thể chế ở Na Uy được đặc trưng bởi mức độ minh bạch, trách nhiệm và tính toàn vẹn cao, và sự xuất hiện của tham nhũng là rất ít.
Các nhà tù Na Uy nổi tiếng bởi sự nhân đạo, nhấn mạnh vào việc cải tạo phạm nhân hơn là trừng phạt họ. Ở mức 20%, tỷ lệ tái kết án của Na Uy thuộc loại thấp nhất thế giới.
Quan hệ ngoại giao
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, khác với Thụy Điển và một vài quốc gia khác, Na Uy điều chỉnh chính sách đối ngoại từ việc "trung lập hạn chế" sang liên minh quân sự và gia nhập NATO (1949) để có sự đảm bảo của Hoa Kỳ và Tây Âu cho an ninh và quốc phòng, vì Na Uy luôn luôn lo ngại ảnh hưởng của Liên Xô (nay là Nga) trong Chiến tranh Lạnh. Na Uy tham gia lực lượng phản ứng nhanh của NATO ở Trung Đông, ủng hộ Mỹ trong hầu hết các vấn đề quốc tế. Cùng với các nước Bắc Âu khác, Na Uy chủ trương cải tổ Liên Hợp Quốc, trong đó có Hội đồng bảo an nhằm đảm bảo dân chủ và quyền bình đẳng giữa các nước thành viên Liên Hợp Quốc. Na Uy đang thực hiện kế hoạch điều chỉnh quan hệ đối ngoại, tập trung nguồn lực nhiều hơn trong quan hệ với các nước mới nổi (BRICS) gồm có Brasil, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Nam Phi nhằm tận dụng nguồn lực phát triển của các nước này.
Na Uy duy trì các đại sứ quán ở 82 quốc gia. 60 quốc gia duy trì một đại sứ quán ở Na Uy, tất cả đều nằm ở thủ đô Oslo.
Na Uy là thành viên sáng lập của Liên Hợp quốc (LHQ), Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), Hội đồng châu Âu và Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA).
Na Uy đã tham gia vào quá trình đàm phán Hiệp định Oslo, một nỗ lực không thành công để giải quyết xung đột Israel–Palestine.
Na Uy đệ đơn xin gia nhập Liên minh châu Âu (EU) và các tổ chức tiền thân của nó vào các năm 1962, 1967 và 1992. Trong khi Đan Mạch, Thụy Điển và Phần Lan đều đã có được tư cách thành viên EU, cử tri Na Uy bác bỏ việc gia nhập EU trong các cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1972 và 1994.
Sau cuộc trưng cầu dân ý năm 1994, Na Uy duy trì tư cách thành viên của mình trong Khu vực kinh tế châu Âu (EEA), một thỏa thuận cho phép quốc gia tiếp cận thị trường đơn nhất của Liên minh
Năm 1996, Quốc hội Na Uy thông qua "Chiến lược châu Á" nhằm tăng cường quan hệ chính trị và mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại, văn hoá lâu dài với các nước ở khu vực này. Hiện nay, Na Uy có quan hệ thương mại nhiều với Nhật Bản, Trung Quốc và ngày càng chú trọng đến khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Nhân quyền
Hiến pháp cấm luật có hiệu lực hồi tố, việc trừng phạt dựa trên các luật, các quyết định toà án và tra tấn. Hình phạt tử hình với các trọng tội trong thời chiến bị bãi bỏ vào năm 1979.
Năm 1999, các hiệp ước nhân quyền của Liên Hợp Quốc và Ủy hội châu Âu được nội luật hóa (menneskerettsloven) và có hiệu lực ưu tiên chỉ sau hiến pháp. Tuy nhiên, các luật sư Na Uy gia nhập Uỷ ban chống Tra tấn của Hội đồng châu Âu nhằm thể hiện sự lo ngại với sự giam giữ lâu ngày với những người bị kiện tụng và việc sử dụng hình phạt biệt giam ở Na Uy, coi nó là hình thức tra tấn. Thời gian xử lý đơn xin nhập cư dài cũng như việc xử lý những người định cư bất hợp pháp cũng đang bị tranh cãi.
Năm 2005, các hiệp ước quốc tế chống phân biệt nam nữ và dòng giống được nội luật hóa ở Na Uy. Tổ chức Ân xá Quốc tế gần đây đã chú ý tới tình trạng bạo lực chống phụ nữ ở Na Uy và sự thiếu hụt dịch vụ chăm sóc các nạn nhân bạo lực.
Na Uy được coi là một nước tiến bộ và đã ban hành nhiều luật, chính sách đảm bảo nữ quyền, quyền của người thiểu số và quyền LGBT. Đầu năm 1884, Hiệp hội Quyền phụ nữ Na Uy được thành lập. Họ đã vận động thành công để công nhận các quyền được giáo dục của phụ nữ, quyền bầu cử của phụ nữ, quyền làm việc và thông qua nhiều chính sách bình đẳng giới khác. Từ những năm 1970, bình đẳng giới cũng được đề cao trong chương trình nghị sự của nhà nước, với việc thành lập một cơ quan công quyền để thúc đẩy bình đẳng giới.
Năm 1990, một điều khoản trong hiến pháp Na Uy được sửa đổi liên quan dến vấn đề trao quyền thừa kế cho ngai vàng Na Uy, theo đó đứa con lớn nhất của vị quốc vương sẽ luôn được trao quyền kế vị bất kể giới tính là nam hay nữ
Người Sámi (một dân tộc thiểu số) trong nhiều thế kỷ bị phân biệt đối xử và ngược đãi. Na Uy bị cộng đồng quốc tế chỉ trích về chính sách Na Uy hóa và phân biệt đối xử đối với các dân tộc thiểu số của đất nước. Tuy nhiên, vào năm 1990, Na Uy là quốc gia đầu tiên công nhận Công ước về Bộ lạc và Dân tộc Bản địa được LHQ khuyến nghị.
Na Uy là nước đầu tiên trên thế giới ban hành luật cấm phân biệt đối xử về xu hướng tình dục. Năm 1993, Na Uy là nước thứ hai trên thế giới hợp pháp hóa quan hệ kết hợp dân sự đối với cặp đôi cùng giới. Ngày 1 tháng 1 năm 2009, Na Uy là nước thứ sáu trên thế giới hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới. Na Uy có chính sách thúc đẩy nhân quyền và tổ chức Diễn đàn Tự do Oslo hàng năm, được The Economist đánh giá là "phiên bản nhân quyền của diễn đàn kinh tế Davos".
Quân sự
Lực lượng Vũ trang Na Uy có quân số khoảng 25.000 người, bao gồm cả các nhân viên dân sự. Khi tổng động viên, lực lượng chiến đấu của Na Uy có thể lên tới khoảng 83.000 người. Na Uy có chế độ nghĩa vụ quân sự (bao gồm thời gian huấn luyện từ 6 đến 12 tháng). Năm 2013, Na Uy trở thành nước đầu tiên ở châu Âu và NATO tuyển quân đối với cả phụ nữ lẫn nam giới. Lực lượng vũ trang trực thuộc Bộ Quốc phòng Na Uy. Quốc vương là tổng tư lệnh Lực lượng Vũ trang. Lực lượng Vũ trang Na Uy gồm các quân chủng Lục quân, Hải quân Hoàng gia, Không quân Hoàng gia, Lực lượng Phòng vệ Không gian mạng và Cảnh vệ Quốc gia.
Việc thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt đầu ở tuổi 18 cho lần phục vụ đầu tiên trong thời gian 6 tới 12 tháng (việc này có thể bắt đầu từ tuổi 17 theo nguyện vọng cá nhân). Sau khi hoàn thành giai đoạn nghĩa vụ quân sự đầu tiên, các quân nhân được chuyển sang các đơn vị phục vụ, và có thể được triệu tập cho các đợt huấn luyện theo giai đoạn cho tới tuổi 44. Người từ chối nghĩa vụ quân sự sẽ phải phục vụ mười hai tháng cho một hoạt động dịch vụ dân sự quốc gia. Nếu người đó từ chối thực hiện hoạt động này (sesjon), theo đó bất kỳ sự từ chối nào với nghĩa vụ quân sự tương lai được đề cập tới, anh ta có thể bị truy tố. Một người dường như thích hợp để thực hiện nghĩa vụ và không phải là một người từ chối thực hiện nghĩa vụ, nhưng vẫn từ chối thực hiện hoạt động quân sự cũng có thể bị truy tố. Những thay đổi trong cơ cấu các lực lượng vũ trang đã dẫn tới nhu cầu về nghĩa vụ quân sự bắt buộc giảm đi, và số nam giới cần thiết cũng đang sụt giảm.
Na Uy là một thành viên sáng lập NATO. Na Uy từng đóng góp lực lượng vào Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế (ISAF) tại Afghanistan. Ngoài ra, Na Uy cũng tham gia vào nhiều phái bộ trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc, NATO và Chính sách An ninh và Phòng thủ chung của Liên minh châu Âu.
Phân cấp hành chính
Na Uy là một nhà nước đơn nhất, được chia 15 hạt hành chính cấp 1 (fylke). Chính quyền hạt gồm hội đồng hạt dân cử và thống đốc hạt do hội đồng hạt bầu ra. Ngoài ra, quốc vương và chính phủ bổ nhiệm một Fylkesmann làm đại diện tại mỗi hạt. Như vậy, Chính phủ trực tiếp đại diện ở cấp địa phương thông qua các văn phòng của Thống đốc hạt. Các hạt được chia thành 422 thành phố (cấp hai - kommuner). Chính quyền thành phố gồm hội đồng thành phố, do một thị trưởng và một nội các điều hành nhỏ đứng đầu. Oslo được coi là một hạt và một đô thị.
Na Uy có hai lãnh thổ hải ngoại: Jan Mayen và Svalbard. Có ba lãnh thổ phụ thuộc tại Nam Cực và Subantarctic: Đảo Bouvet, Đảo Peter I và Đất Nữ hoàng Maud. Trên hầu hết các bản đồ, có một khu vực không được thống nhất giữa Đất Nữ hoàng Maud và Cực Nam cho đến ngày 12 tháng 6 năm 2015, khi Na Uy chính thức sáp nhập khu vực đó.
Các hạt Na Uy gồm:
Kinh tế
Na Uy có GDP bình quân đầu người cao thứ hai trong số các quốc gia châu Âu (chỉ xếp sau Luxembourg) và GDP bình quân đầu người (PPP) cao thứ sáu trên thế giới. Ngày nay, Na Uy được xếp hạng là quốc gia giàu thứ hai trên thế giới về giá trị tiền tệ, với mức dự trữ vốn lớn nhất trên đầu người lớn hơn bất kỳ quốc gia nào. Theo CIA World Factbook, Na Uy là chủ nợ nước ngoài ròng. Na Uy duy trì vị trí số một thế giới về Chỉ số phát triển con người của UNDP (HDI) trong sáu năm liên tiếp (2001-2006), và sau đó giành lại vị trí này vào năm 2009. Mức sống ở Na Uy thuộc hàng cao nhất thế giới. Tạp chí Foreign Policy xếp Na Uy đứng cuối cùng trong Chỉ số các quốc gia thất bại năm 2009, đánh giá Na Uy là quốc gia hoạt động tốt và ổn định nhất thế giới.Nền kinh tế Na Uy là một ví dụ về nền kinh tế hỗn hợp, một nhà nước phúc lợi tư bản thịnh vượng và một quốc gia dân chủ xã hội với sự kết hợp giữa kinh tế thị trường tự do và quyền sở hữu lớn của nhà nước trong một số lĩnh vực kinh tế quan trọng. Chăm sóc sức khỏe công cộng ở Na Uy là hoàn toàn miễn phí. Nguồn thu của nhà nước từ tài nguyên thiên nhiên có đóng góp đáng kể từ ngành công nghiệp dầu khí. Na Uy có tỷ lệ thất nghiệp khoảng 4,8%, với 68% dân số trong độ tuổi 15-74 có việc làm. 9,5% dân số trong độ tuổi 18-66 nhận trợ cấp tàn tật và 30% lực lượng lao động được chính phủ tuyển dụng, cao nhất trong số các nước OECD. Năng suất lao động, cũng như mức lương trung bình mỗi giờ ở Na Uy đều thuộc hàng cao nhất trên thế giới.
Các giá trị bình đẳng của xã hội Na Uy đã giữ cho mức chênh lệch về lương giữa công nhân được trả lương thấp nhất so với CEO của hầu hết các công ty ít hơn nhiều so với các nền kinh tế phương Tây có trình độ phát triển tương đương. Điều này cũng được thể hiện rõ trong hệ số Gini cực kỳ thấp của Na Uy, cho thấy Na Uy là nước có mức bất bình đẳng thu nhập rất thấp
Nhà nước nắm quyền sở hữu lớn trong các ngành công nghiệp chủ chốt, như ngành công nghiệp dầu khí (Statoil), sản xuất năng lượng thủy điện (Statkraft), sản xuất nhôm (Norsk Hydro), ngân hàng (DNB) và nhà cung cấp viễn thông (Telenor). Thông qua các công ty lớn này, chính phủ kiểm soát khoảng 30% giá trị cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Oslo. Khi các công ty không niêm yết được đưa vào, nhà nước thậm chí còn có cổ phần cao hơn (chủ yếu từ quyền sở hữu giấy phép dầu trực tiếp). Na Uy là một quốc gia vận chuyển lớn và có đội tàu vận tải lớn thứ 6 thế giới, với 1.412 tàu vận tải thuộc sở hữu của Na Uy.
Đất nước này rất giàu tài nguyên thiên nhiên bao gồm dầu mỏ, thủy điện, thủy sản, rừng và khoáng sản. Trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên rất lớn đã được phát hiện vào những năm 1960, dẫn đến sự bùng nổ trong nền kinh tế. Na Uy đã trở thành một trong những nước có mức sống cao nhất trên thế giới một phần nhờ sở hữu một lượng lớn tài nguyên thiên nhiên so với quy mô dân số. Năm 2011, 28% ngân sách của nhà nước được tạo ra từ ngành công nghiệp dầu khí.
Na Uy là quốc gia đầu tiên ban hành luật cấm phá rừng, để ngăn chặn rừng mưa biến mất. Nước này tuyên bố ý định của mình tại Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu của Liên hợp quốc năm 2014, cùng với Vương quốc Anh và Đức. Các loại sản phẩm thường liên quan đến việc phá rừng là gỗ, đậu nành, dầu cọ và thịt bò. Giờ đây Na Uy phải tìm một cách mới để cung cấp các sản phẩm thiết yếu này mà không gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.
Những cuộc trưng cầu dân ý năm 1972 và 1994 cho thấy người dân Na Uy muốn ở bên ngoài Liên minh châu Âu (EU). Tuy nhiên, Na Uy cùng với Iceland và Liechtenstein, tham gia vào thị trường chung Liên minh châu Âu thông qua thoả thuận Vùng Kinh tế châu Âu (EEA). Hiệp ước EEA giữa các quốc gia Liên minh châu Âu và các quốc gia EFTA – đã được đưa vào luật pháp Na Uy thông qua "EØS-loven" – miêu tả quá trình áp dụng các quy định của Liên minh châu Âu tại Na Uy và các quốc gia EFTA. Điều này khiến Na Uy trở thành một thành viên tham gia sâu vào đa số các lĩnh vực của thị trường nội bộ Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, một số lĩnh vực, như nông nghiệp, dầu khí và đánh cá, không hoàn toàn phải tuân thủ Hiệp ước EEA. Na Uy cũng tham gia vào Thoả thuận Schengen và nhiều thoả thuận liên chính phủ khác giữa các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu.
Đồng tiền tệ quốc gia là Krone Na Uy.
Tài nguyên
==== Dầu khí ====
Na Uy là nước xuất khẩu dầu lớn thứ năm và xuất khẩu khí lớn thứ ba trên thế giới, nhưng quốc gia này lại không phải là thành viên của OPEC. Năm 1995, chính phủ Na Uy đã thành lập một Quỹ đầu tư quốc gia, sẽ được tài trợ bằng các khoản thu từ dầu mỏ, bao gồm thuế, cổ tức, doanh thu bán hàng và phí cấp phép. Điều này nhằm giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào nguồn thu từ dầu mỏ, giảm thiểu sự không ổn định từ tình trạng biến động của giá dầu và cung cấp một nguồn kinh phí cho quỹ hưu trí của đất nước trong bối cảnh già hóa dân số.
Chính phủ kiểm soát tài nguyên dầu mỏ thông qua sự kết hợp giữa quyền sở hữu một phần của nhà nước đối với các công ty khai thác dầu lớn (với tỷ lệ sở hữu khoảng 62% đối với công ty Statoil vào năm 2007) và công ty Petoro hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà nước, có giá trị thị trường gấp đôi so với Statoil và SDFI. Cuối cùng, chính phủ kiểm soát việc cấp phép thăm dò và sản xuất của các khu khai thác. Các quỹ đầu tư vào thị trường tài chính phát triển bên ngoài Na Uy. Quy tắc ngân sách (Handlingsregelen) là chi tiêu không quá 4% quỹ mỗi năm (được coi là lợi tức bình thường từ quỹ).
Từ năm 1966 đến 2013, các công ty Na Uy đã khoan tổng cộng 5085 giếng dầu, chủ yếu ở Biển Bắc. Trong đó có 3672 giếng dầu là utviklingsbrønner (khai thác thường xuyên); 1413 là letebrønner (thăm dò); và 1405 đã chấm dứt khai thác (avsluttet).
Các mỏ dầu chưa trong giai đoạn khai thác bao gồm: mỏ dầu Wisting Central - với trữ lượng ước tính trong năm 2013 là 65-156 triệu thùng dầu và 10 đến 40 tỷ foot khối (0,28 đến 1,13 tỷ mét khối) khí đốt. cùng với đó là mỏ dầu Castberg (Castberg-feltet ) có trữ lượng ước tính 540 triệu thùng dầu, và 2 đến 7 tỷ foot khối (57 đến 198 triệu mét khối) khí đốt. Cả hai mỏ dầu đều nằm ở Biển Barents.
Nội dung từ Wikipedia, giấy phép CC BY-SA. Lấy trực tiếp qua API Wikipedia.